Kết quả công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020 của tỉnh Vĩnh Phúc

31/08/2020

Qua 10 năm thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 với sự tham gia tích cực của cơ quan hành chính các cấp và cá nhân, tổ chức trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, công tác cải cách hành chính của tỉnh đã đạt được những kết quả tích cực ở các nội dung. Về cải cách thể chế, từ năm 2011 đến nay, HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh đã ban hành 2.792 văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực; thực hiện rà soát 932 văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND các cấp ban hành; kiểm tra 511 văn bản do cấp tỉnh, cấp huyện ban hành. Các văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh ban hành đảm bảo đúng quy trình, thủ tục, thể thức, thẩm quyền, nội dung phù hợp với quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các Luật chuyên ngành và đạt hiệu quả cao trong quá trình triển khai thực hiện.

Về cải cách tổ chức bộ máy, toàn tỉnh đã giảm 03 chi cục; 68 phòng chuyên môn thuộc sở, UBND cấp huyện, chi cục; giảm 145 đơn vị sự nghiệp công lập; giảm 01 xã và 143 thôn, tổ dân phố; từ năm 2015 đến nay giảm 1.714 chỉ tiêu công chức, viên chức đạt 7,6% so với năm 2015 (theo quy định từ năm 2015-2021 phải tinh giản tối thiểu 10% biên chế).

Xác định, cải cách thủ tục hành chính là khâu quan trọng trong cải cách hành chính, tỉnh Vĩnh Phúc đã tập trung triển khai nhiều giải pháp để thực hiện nhiệm vụ như: Tăng cường kiểm soát, đôn đốc quá trình xử lý hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính; Thực hiện rút ngắn tối thiểu 20% thời hạn giải quyết của 825 thủ tục hành chính có thời hạn giải quyết trên 10 ngày làm việc; Thực hiện tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích; Chỉ đạo, quán triệt việc thực hiện công khai xin lỗi tổ chức, cá nhân khi giải quyết thủ tục hành chính chậm; Kiện toàn hệ thống một cửa các cấp và triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh; Tổ chức thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử qua đó tạo thuận lợi cho tổ chức và nhân dân trong thực hiện giao dịch hành chính với cơ quan nhà nước, góp phần cải thiện mối quan hệ với người dân, doanh nghiệp, có nhiều cải thiện tích cực với phương châm phục vụ người dân, doanh nghiệp góp phần thực hiện tốt các cơ chế, chính sách trong thu hút đầu tư của tỉnh.

Trong 10 năm qua, tỉnh đã thực hiện công bố 6.576 lượt nội dung các thủ tục hành chính được ban hành mới, sửa đổi, bổ sung, hoặc bãi bỏ; số thủ tục hành chính hiện nay được công khai trên Cổng thông tin giao tiếp điện tử của tỉnh là 1.799 thủ tục hành chính, trong đó: Cấp tỉnh 1.401 thủ tục hành chính; cấp huyện 272 thủ tục hành chính; cấp xã 126 thủ tục hành chính. Kết quả giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện tại Trung tâm Phục vụ hành chính công, đối với cấp huyện và cấp xã được giải quyết tại Bộ phận một cửa. Từ năm 2012 đến hết quý II/2020, tỷ lệ hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính đạt trên 95%.

Đặc biệt, tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai, áp dụng nhiều mô hình sáng kiến, giải pháp mang tính đột phá, như: UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành quy chế phối hợp, phân rõ thời gian giải quyết và trách nhiệm giữa các cơ quan hành chính trong việc giải quyết thủ tục hành chính. Đồng thời, qua rà soát, đánh giá thủ tục hành chính đã thực hiện rút ngắn từ 20% - 53% thời hạn giải quyết của 825 thủ tục hành chính; Năm 2013, Vĩnh Phúc là một trong số ít tỉnh, thành đầu tiên triển khai Dự án Phần mềm dùng chung cho Bộ phận một cửa, triển khai đồng bộ đến các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã. Thông qua việc sử dụng Phần mềm tỷ lệ hài lòng của người dân đối với các cơ quan hành chính nhà nước ngày càng được nâng lên.

Công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (CB,CCVC) được tỉnh quan tâm triển khai có hiệu quả. Bên cạnh những quy định của Trung ương, tỉnh Vĩnh Phúc đã có nhiều sáng tạo trong xây dựng và ban hành chính sách đặc thù của địa phương về quản lý, sử dụng, nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CCVC của tỉnh, như: Chính sách hỗ trợ CB,CCVC đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ; chính sách thu hút nguồn nhân lực chất cao; chính sách xây dựng đội ngũ trí thức và trọng dụng nhân tài; chính sách hỗ trợ CB,CCVC và lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng; trong đó chính sách hỗ trợ CB,CCVC thôi việc theo nguyện vọng là một trong những chính sách đột phá của tỉnh, nhận được sự đồng thuận trong cả hệ thống chính trị của tỉnh, góp phần giảm biên chế và tạo điều kiện tuyển dụng bổ sung công chức, viên chức trẻ, có năng lực cho các cơ quan, đơn vị, địa phương. Với các chính sách này, tỉnh đã chọn cử gần 600 CB, CCVC đi đào tạo sau đại học; thu hút 56 trường hợp đã qua đào tạo ở một số ngành, lĩnh vực về tỉnh công tác; thu hút, hỗ trợ đào tạo và tuyển dụng đối với 119 sinh viên thi đỗ hệ chính quy các trường đại học Y, Dược; thu hút sinh viên tốt nghiệp xuất sắc theo Nghị định số 140/2017/NĐ-CP ngày 05/12/2017 của Chính phủ đối với 50 giáo viên tiểu học, THCS; cắt giảm 11.473 người hoạt động không chuyên trách cấp xã và ở thôn, tổ dân phố so với năm 2015; giải quyết thôi việc theo nguyện vọng để hướng chính sách hỗ trợ của tỉnh đối với 1.327 CB,CCVC.

Về cải cách tài chính công, tỉnh đã ban hành các Nghị quyết về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp: tỉnh, huyện, xã; Tăng cường đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục và đào tạo, y tế, dân số - kế hoạch hoá gia đình, thể dục, thể thao; 100% cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã được giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính. Toàn tỉnh có 09 đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên; 91 đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; 671 đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách bảo đảm chi thường xuyên; thực hiện phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm đối với từng cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc quản lý và sử dụng tài sản công.

Về hiện đại hóa hành chính, hàng năm tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; Cổng dịch vụ công tỉnh Vĩnh Phúc đã được xây dựng và đáp ứng chức năng, yêu cầu kỹ thuật theo quy định và đã kết nối vào trục liên thông quốc gia; Các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 do UBND tỉnh công bố đã được tích hợp lên cổng dịch vụ công; 100% sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố đã được đầu tư xây dựng hệ thống mạng nội bộ (LAN), kết nối Internet; 100% cán bộ công chức cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã được trang bị máy vi tính; 100% văn bản điện tử đăng tải trên Cổng Thông tin giai tiếp điện tử của tỉnh có sử dụng chữ ký số chuyên dùng; các sở, ban, ngành, địa phương đã triển khai ký số văn bản đi và phát hành trên phần mềm quản lý văn bản và điều hành; 100% cơ quan, đơn vị, địa phương đã triển khai, sử dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành; đã cấp 8.500 hộp thư điện tử cho 100% cơ quan, đơn vị, địa phương phục vụ chuyên môn, nghiệp vụ và công việc liên quan đến công vụ của cơ quan nhà nước...

Kết quả đạt được trong cải cách hành chính đã góp phần cải thiện các chỉ số như Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); Chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI); đưa Chỉ số đánh giá cải cách cách hành chính (PAR Index) của tỉnh nhiều năm đứng tốp đầu cả nước: Năm 2013 xếp thứ 6/63 tỉnh thành; năm 2016 xếp thứ 8/63 tỉnh thành; năm 2018 xếp thứ 14/63 tỉnh thành; năm 2019 xếp thứ 10/63 tỉnh thành. Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS): Năm 2017 xếp thứ 1/63 tỉnh thành; năm 2018 xếp thứ 13/63 tỉnh thành; năm 2019 xếp thứ 11/63 tỉnh thành.

Các mục tiêu, nhiệm vụ Chính phủ giao trong chương trình CCHC Nhà nước giai đoạn 2011-2020, trong đó có một số mục tiêu, nhiệm vụ vượt yêu cầu. Cụ thể, Năm 2015 đã có 9/9 UBND cấp huyện triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông hiện đại; sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp về thủ tục hành chính đạt trên 80%; sự hài lòng của cá nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trên các lĩnh vực giáo dục và y tế đạt trên 80%; sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước đạt trên 80%. Đội ngũ CB,CCVC có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ; 100% các cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu cán bộ, công chức theo vị trí việc làm...

Để phát huy những kết quả đã đạt được về công tác cải cách hành chính trong thời gian vừa qua, từ yêu cầu thực tế về cải cách hành chính và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn 2021-2030, tỉnh Vĩnh Phúc cần lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai có hiệu quả Chương trình tổng thể Nhà nước giai đoạn 2021-2030 theo chỉ đạo của Chính phủ và hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương. Tiếp tục rà soát thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ, các Bộ ngành đã giao về CCHC thuộc thẩm quyền của địa phương gồm 6 nhiệm vụ về Cải cách thể chế; cải cách thủ tục hàn chính, đặc biệt là đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa nền hành chính./.

Nguyễn Thị Định
Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Phúc

 

Tháng 10, 2020
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
27 28 29 30 1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31
1 2 3 4 5 6 7