Kết quả sau 1 năm thực hiện Đề án 01-ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh Ủy về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan tỉnh Vĩnh Phúc

07/03/2018

Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc Vùng đồng bằng sông Hồng, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và quy hoạch Vùng Thủ đô Hà Nội, có diện tích tự nhiên gần 1.236 Km2 (đứng thứ 60/63 tỉnh, thành phố)  với dân số 1, 054 triệu người.

Tính đến hết 2016, toàn tỉnh có 1.106 tổ chức, cơ quan, đơn vị trong đó có 43 tổ chức, cơ quan khối đảng, đoàn thể và 1.063 tổ chức, cơ quan khối chính quyền. Có 09 huyện, thành, thị ( 01 thành phố, 01 thị xã và 7 huyện); 137 xã, phường, thị trấn; 1.385 thôn, tổ dân phố.

Sau 20 năm tái lập, kinh tế Vĩnh Phúc liên tục phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 1997 – 2016 đạt 15,37%/năm. Cơ cấu kinh tế đến năm 2017: Công nghiệp – xây dựng chiếm 61,97%; dịch vụ chiếm 27,78%; nông, lâm nghiệp, thủy sản còn 10,25%. Tổng sản phẩm (GRDP) bình quân đầu người năm 2017 đạt 72,3 triệu đồng, tương đương 3.200 USD. Thu ngân sách nhà nước năm 2017 đạt 25,37 nghìn tỷ đồng, trong đó thu nội địa 22 nghìn tỷ đồng. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được cải thiện từ vị trí 43/63 tỉnh, thành năm 2012 lên vị trí thứ 9/63 vào năm 2016. Thu hút đầu tư đến tháng 12/2017 được 255 dự án FDI với số vốn đăng ký hơn 3,7 tỷ USD và 663 dự án DDI với số vốn 67,6 nghìn tỷ đồng. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội luôn được quan tâm đầu tư theo hướng đồng bộ và hiện đại, diện mạo đô thị và nông thôn có nhiều đổi mới, đến nay toàn tỉnh có 2 huyện là Yên Lạc, Bình Xuyên và 92 xã (đạt 82,1%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế được quan tâm kịp thời, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự xã và và công tác quốc phòng được chú trọng.

Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ sở đảng, định hướng đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội; Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) “về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị” và đặc biệt là Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; các cấp ủy đảng tỉnh Vĩnh Phúc đã nghiêm túc quán triệt các Nghị quyết của Trung ương về xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Xác định tầm quan trọng của các nghị quyết, kết luận của Trung ương về tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, ngay sau khi học tập, quán triệt Nghị quyết, Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết về đổi mới hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, nhằm sắp xếp lại tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ổn định, có phẩm chất đạo đức, có năng lực thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Trọng tâm là ngày 02/10/2013, UBND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Quyết định số 2713/QĐ-UBND kèm theo Đề án Kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nâng cao hiệu quả hoạt động các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2013-2020 và Đề án 01-ĐA/TU ngày 30/11/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2021(sau đây gọi tắt là Đề án 2713 và Đề án 01).

Có thể nói hai Đề án trên mang tính đột phá của tỉnh Vĩnh Phúc trong thực hiện xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đề án 2713 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc là những bước đi đầu, đúng hướng, tạo điều kiện để triển khai các Nghị quyết của Trung ương về tinh gọn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị. Trong thời gian hai năm thực hiện Đề án 2713, tỉnh Vĩnh Phúc đã sắp xếp giảm 34 đơn vị sự nghiệp, trong đó giải thể 03 đơn vị, sáp nhập 45 đơn vị thành 14 đơn vị (giảm 31 đơn vị do sáp nhập). Cụ thể: sáp nhập 27 đơn vị y tế cấp huyện thành 09 đơn vị y tế cấp huyện, giảm 18 đơn vị; 06 Trung tâm GDTX và Trung tâm Dạy nghề cấp huyện thành 03 Trung tâm GDTX&DN cấp huyện, giảm 3 đơn vị; Trường Trung cấp kỹ thuật vào Trường Cao đẳng nghề Vĩnh Phúc, giảm 01 đơn vị; sáp nhập 09 Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc UBND cấp huyện và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Sở Tài nguyên & Môi trường thành Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh trực thuộc Sở Tài nguyên & Môi trường, giảm 09 đơn vị). Đặc biệt, tỉnh Vĩnh Phúc đã đi trước trong việc sắp xếp mô hình các Trung tâm y tế tuyến huyện nhưng hoàn toàn phù hợp với mô hình tổ chức của ngành y tế  quy định tại Thông tư liên tịch số 51/2015/ TTLT-BYT-BNV ngày 11/12/2015 của Liên bộ Y tế, Nội vụ.

Với các nội dung của Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Vĩnh Phúc xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm tăng cường và nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của Đảng, năng lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Vì vậy, tỉnh đã tập trung quyết liệt chỉ đạo các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở thống nhất nhận thức và thực hiện có hiệu quả chủ trương về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ CBCCVC. Triển khai, cụ thể hóa các văn bản, quy định của Trung ương tại Kế hoạch số 124-KH/TU ngày 22/9/2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị- xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ nay đến năm 2021và Kế hoạch số 6776/KH-UBND ngày 28/10/2015 của UBND tỉnh về sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2015-2021 và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan, địa phương thuộc tỉnh và nhiều văn bản chỉ đạo khác.

Để thể hiện quyết tâm chính trị cao đối với nhiệm vụ về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức một cách có hệ thống, có lộ trình và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, sau một thời gian tuyên truyền, phổ biến và khảo sát đánh giá thực trạng của cả hệ thống các cơ quan từ tỉnh đến cơ sở, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã ban hành Đề án số 01-ĐA/TU ngày 30/11/2016 về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2021. Mục tiêu của Đề án tập trung vào ba nội dung chính là  sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và tiết kiệm chi ngân sách. Về tổ chức bộ máy, toàn tỉnh phấn đấu đạt từ 30% đến 35% cơ quan Đoàn thể cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh giảm được từ 01 phòng, ban chuyên môn trực thuộc trở lên; sắp xếp lại các trường Cao đẳng, Trung cấp, Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Dạy nghề, các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh; sáp nhập, giải thể các đơn vị giáo dục - đào tạo hoạt động kém hiệu quả hoặc quy mô không phù hợp. Khuyến khích phát triển các cơ sở giáo dục đào tạo ngoài công lập, nhất là các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục hòa nhập ở những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển; đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi hình thức hoạt động sang cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế, văn hóa, kinh tế, khoa học công nghệ và sự nghiệp khác. Phấn đấu có ít nhất 50% đơn vị sự nghiệp công lập (trừ sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế) thực hiện tự chủ về tài chính, trong đó có 70% đơn vị sự nghiệp kinh tế tự chủ hoàn toàn về chi thường xuyên. Về tinh giản biên chế, đảm bảo tỷ lệ tinh giản biên chế toàn tỉnh theo lộ trình giảm dần đến năm 2021 đạt tối thiểu 10% biên chế được giao năm 2015 là 2.550 biên chế; khuyến khích đẩy mạnh chuyển đổi thêm 10% số lượng viên chức sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và xã hội hóa, thay thế nguồn trả lương từ ngân sách Nhà nước bằng nguồn thu từ sự nghiệp; thực hiện thí điểm bố trí cán bộ kiêm nhiệm, nhất thể hóa một số chức danh lãnh đạo cấp huyện, cấp xã ở những nơi có đủ điều kiện. Đến năm 2018, có 30% và đến năm 2021 có 50% số xã, phường, thị trấn có cán bộ, công chức được luân chuyển, trong đó tối thiểu 50% số cán bộ được luân chuyển là Bí thư đảng ủy hoặc Chủ tịch UBND cấp xã; giảm số lượng người hoạt động không chuyên trách bằng hoặc thấp hơn mức quy định của Trung ương: Mỗi xã có 8 người; mỗi thôn, tổ dân phố loại 1 có không quá 7 người; thôn, tổ dân phố loại 2 có không quá 5 người được hưởng phụ cấp từ ngân sách Nhà nước. Đến năm 2021, mỗi thôn, tổ dân phố có không quá 3 người hoạt động không chuyên trách được hưởng phụ cấp từ ngân sách Nhà nước. Đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh có số lượng, cơ cấu hợp lý, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ đáp ứng sự nghiệp phát triển của tỉnh và đất nước.

Ngay sau khi Đề án 01 được ban hành, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã chỉ đạo cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành, nhất là người đứng đầu phải coi việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng từ nay đến năm 2021. Đồng thời từng cơ quan có kế hoạch tuyên truyền phổ biến sâu, rộng đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân về nội dung Đề án 01 để tạo sự đồng thuận cao về nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị. Các cơ quan thông tin, truyền thông của tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về mục đích, ý nghĩa của việc triển khai Đề án 01 của Tỉnh ủy; định hướng dư luận, tạo sự  ủng hộ của nhân dân trong tỉnh, nhất là những nội dung liên quan trực tiếp đến cơ sở.

Với các phương pháp tổ chức triển khai như trên, qua một năm thực hiện Đề án 01, cùng với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và tổ chức thực hiện nghiêm túc của các cơ quan, địa phương trong tỉnh đã đạt được một số kết quả chính như sau:            

Về sắp xếp tổ chức, bộ máy : Toàn tỉnh đã có 21/21 cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và 9/9 huyện, thành, thị được quy định lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức theo  Nghị định số 24/2014/ NĐ-CP ngày 04/4/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành. Sau khi quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các sở, ngành,UBND cấp huyện trong toàn tỉnh đã giảm 01 chi cục và 28 phòng chuyên môn; có 02 cơ quan không bố trí tối đa số phòng chuyên môn theo quy định. Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, đã thực hiện tổ chức rà soát, sắp xếp, sáp nhập, giải thể, tổ chức lại để giảm 45  đơn vị sự nghiệp công lập. Như vậy đến nay toàn tỉnh đã giảm 74 đầu mới cơ quan, đơn vị. Đồng thời, thực hiện Nghị quyết số 89/NQ-CP ngày 10/10/2016 của Chính phủ, các đơn vị sự nghiệp toàn tỉnh rà soát, xây dựng Đề án vị trí việc làm và được UBND tỉnh phê duyệt sau khi tổ chức sắp xếp lại theo Đề án số 01 để tránh chồng chéo về chức năng nhiệm vụ.

Về biên chế và tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ CB,CCVC :  Trên cơ sở đề án tinh giản biên chế của các cơ quan, đơn vị, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 3847/QĐ-UBND ngày 25/11/2016 phê duyệt số lượng tinh giản biên chế của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2015-2021 là 2.550 người.

Thực hiện các biện pháp của Đề án 01 về tinh giản biên chế, UBND tỉnh đã trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 22/2017/NQ-HĐND về quy định số lượng, chức danh, mức phụ cấp và một số chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách, mức khoán kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội ở cấp xã, thôn, tổ dân phố và Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng. Thực hiện Nghị quyết, toàn tỉnh  đã giảm được 9.138/10.575 người hoạt động không chuyên trách  (xã 1.670 người, thôn 7.468 người) bằng 86,4% đạt vượt mức kế hoạch đặt ra (là từ 70 đến 80%) và giải quyết thôi việc đối với 205 công chức, viên chức và lao động thôi việc theo nguyện vọng.  Như vậy, từ năm  2015 đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện tinh giản biên chế được 1.500 người đạt 5,9% trên số phải tinh giản là 10%, từ nay đến 2021 còn phải thực hiện 4,1%, so với lộ trình mỗi năm phải thực hiện 1,5% thì đã đạt cao hơn kế hoạch.

Hai Nghị quyết trên của tỉnh được đánh giá có hiệu quả tốt, đi vào cuộc sống và góp phần tích cực trong thực hiện tinh giản biên chế. Đặc biệt Nghị quyết 31/2017/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Vĩnh Phúc đã giải quyết tốt chính sách cho công chức, viên chức chịu ảnh hưởng, tác động trực tiếp từ việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tạo được sự ủng hộ tích cực trong quá trình tinh giản biên chế, quan tâm đến quyền lợi, tâm tư, tình cảm của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khi thôi việc. Nghị quyết này góp phần không nhỏ vào kết quả tinh giản biên chế của tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay.

Công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được chú trọng thay đổi, cải tiến ngay từ khâu tuyển dụng. Việc tuyển dụng công chức (kể cả công chức cấp xã) và viên chức đều được thực hiện thống nhất bằng hình thức thi tuyển và theo vị trí việc làm. Cải tiến phương thức, quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo quản lý theo hướng đề cao trách nhiệm của cấp có thẩm quyền bổ nhiệm xem xét, quyết định trên cơ sở tiêu chuẩn, điều kiện và kết quả công việc. Thực hiện đúng quy định về số lượng cấp phó trong các cơ quan. Công tác đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức được yêu cầu đổi mới  theo quy chế đánh giá phù hợp với từng cơ quan, đơn vị. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trong quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức như quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm, thôi việc, đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đặc biệt UBND tỉnh cũng đã chỉ đạo thực hiện quyết liệt một số giải pháp về công tác cán bộ như yêu cầu chấm dứt việc hợp đồng lao động trong tất cả các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp sử dụng hết chỉ tiêu biên chế sự nghiệp được giao; tạm dừng việc bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo cấp phòng để thực hiện Đề án thí điểm thi tuyển lãnh đạo. Để đáp ứng yêu cầu của tỉnh về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh trong tình hình mới, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 30/2017/NQ-HĐND ngày 17/7/2017 quy định một số chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, công chức, viên chức được biệt phái, đào tạo, bồi dưỡng và thu hút giai đoạn 2017- 2021.

Đến nay, 100% cán bộ lãnh đạo, quản lý cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh, huyện trên toàn tỉnh đều đạt chuẩn về trình độ đào tạo theo quy định; số cán bộ, công chức, viên chức có bằng sau đại học là 2.604 người (thạc sỹ 2.548 người, tiến sỹ 56 người). Các chỉ tiêu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đều đạt và vượt nhiều so với mục tiêu đề ra tại Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ, có những nội dung  vượt trên 200% mục tiêu do Nghị quyết 06-NQ/TU ngày 25/02/2008 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đề ra, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Toàn tỉnh đạt tỷ lệ 09 bác sỹ/1 vạn dân, có 98,3% CB,CC cấp xã đạt chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ theo chức danh quy định, trong đó 98,2% cán bộ đạt chuẩn, 97,9% công chức đạt chuẩn (vượt so với chỉ tiêu do Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ đề ra là 80% công chức cấp xã vùng đồng bằng và 60% miền núi, dân tộc đạt chuẩn theo chức danh).

Công tác cải cách hành chính: Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tiếp tục được duy trì ở cả 3 cấp; Đã thành lập Trung tâm hành chính công cấp tỉnh và ở toàn bộ cấp huyện; Triển khai dự án dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3,4 đối với 42 dịch vụ công; Từ Quý IV/2016 đến nay UBND tỉnh đã ban hành quyết định công bố, sửa đổi, bổ sung, thay thế đối với 64 TTHC, bãi bỏ 34 TTHC một số lĩnh vực thuộc các sở: Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và PTNT, Khoa học và Công nghệ. Đặc biệt, một số TTHC có phương án đơn giản hóa được UBND tỉnh quyết định thông qua bao gồm 14 TTHC (thuộc các lĩnh vực của Sở Công Thương, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Nông nghiệp và PTNT và một số TTHC thuộc quyền quản lý của UBND cấp huyện). Kết quả đã cắt giảm được 30% thời gian giải quyết TTHC đem lại nhiều thuận lợi hơn cho người dân, tổ chức khi thực hiện TTHC, loại bỏ một số thủ tục hồ sơ, giấy tờ không cần thiết. Tinh thần thái độ làm việc, trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ CB,CCVC được nâng lên.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin và việc áp dụng ISO trong hoạt động của cơ quan hành chính dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đã triển khai thực hiện đúng quy định. Nổi bật là Phần mềm quản lý văn bản Edocman, Phần mềm ứng dụng cho Bộ Phận một cửa các cấp và việc duy trì, cải tiến ISO, ISO điện tử đối với các cơ quan, đơn vị tự tỉnh đến xã đúng quy định và là tỉnh có tỷ lệ UBND cấp xã cao trong cả nước áp dụng ISO (đến hết năm 2017 đạt 100% UBND cấp xã áp dụng ISO). Đây là một bước đột phá trong công tác cải cách hành chính, việc áp dụng công nghệ thông tin là một điều tất yếu, phù hợp với sự phát triển chung của xã hội và các nền hành chính tiên tiến trên thế giới. Từ năm 2013 đến nay Sở Nội vụ đã tham mưu, giúp UBND tỉnh triển khai một số dự án công nghệ thông tin phục vụ hoạt động của một số lĩnh vực chuyên môn then chốt của ngành. Đa số các phần mềm ứng dụng của tỉnh đều được triển khai đồng bộ tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh, 100% cơ sở dữ liệu đều được Trung tâm hạ tầng công nghệ thông tin của tỉnh vận hành và quản lý tạo sự đồng bộ trong công tác quản lý, bảo mật, đảm bảo thiết thực, hiệu quả.  Đến nay, phần mềm Phần mềm ứng dụng cho Bộ phận một cửa đã đi vào hoạt động đồng bộ tại 164 cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh, gồm: 18/20 sở, ban, ngành; 09/09 huyện, thành, thị và 137 xã, phường, thị trấn. Chỉ tính riêng 08 tháng đầu năm 2017 toàn tỉnh đã có 153.721 hồ sơ, thủ tục hành chính tiếp nhận qua Bộ phận một cửa được cập nhập lên phần mềm theo quy định (Tại 18 sở, ban, ngành đã nhập 7.860 hồ sơ; Tại 09 UBND cấp huyện đã nhập 14.218 hồ sơ; Tại 137 đơn vị cấp xã đã nhập 131.643 hồ sơ) có 75/164 cơ quan, đơn vị thực hiện tốt việc cập nhập và giải quyết hồ sơ trên phần mềm và không để tồn đọng hồ sơ quá hạn trên phần mềm.

Những kết quả trên là thành công bước đầu rất đáng khuyến khích trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung và đối với các cơ quan tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện còn một số khó khăn, vướng mắc như việc giao tự chủ đối với một số đơn vị sự nghiệp công lập chưa đáp ứng yêu cầu, chưa có sự quyết tâm cao của người đứng đầu đơn vị. Các cơ quan, đơn vị chưa chủ động, quyết liệt việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính, chưa mạnh dạn đề xuất được giao giao tự chủ tài chính. Quá trình thực hiện cổ phần hóa các đơn vị sự nghiệp công lập còn chậm, vướng mắc nhiều về cơ chế. Việc đổi mới cơ chế tài chính đối với các hội đặc thù từ năm 2018 là khó khăn do Chính phủ chưa sửa đổi quy định về các Hội đặc thù. 

Do vậy, Sở Nội vụ - cơ quan chủ trì giúp UBND tỉnh triển khai thực hiện nhiệm vụ cũng xác định rõ những khó khăn, vướng mắc để báo cáo Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh quyết tâm chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện để kiên trì hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Đồng thời tiếp tục xây dựng kế hoạch, chương trình hành động triển khai thực hiện các Nghị quyết TW 6 Khoá XII đến năm 2021 cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, kiện toàn một số tổ chức và các đầu mối bên trong theo hướng giảm đầu mối, giảm tối đa cấp trung gian, giảm cấp phó; tối thiểu bình quân giảm 10% đơn vị sự nghiệp công lập (Vĩnh Phúc giảm khoảng 85 đơn vị, hiện đã giảm được 41 đơn vị bằng 48%, còn phải giảm 44 đơn vị); 10% đơn vị tự chủ tài chính (hiện mới dự kiến có 29 đơn vị bằng 34%, còn  thiếu 56 đơn vị). Tổ chức lại các cơ sở giáo dục có quy mô nhỏ thành Trường có nhiều cấp học trên cùng một địa bàn theo tinh thần Nghị quyết 19 Hội nghị TW 6 khóa XII của Đảng để giảm số lượng đơn vị, giảm số lượng cán bộ lãnh đạo quản lý và nhân viên trường học; đẩy mạnh xã hội hóa các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông ở các địa bàn có khả năng xã hội hóa cao để mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Đẩy nhanh tiến độ giao tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp kinh tế, có lộ trình giảm dần nguồn kinh phí ngân sách giao hàng năm để thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với tất cả các đơn vị sự nghiệp khác.

Trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Vĩnh Phúc xác định thực hiện có lộ trình, bước đi vững chắc, đáp ứng yêu cầu cả trước mắt và lâu dài, góp phần giải quyết những vấn đề thực tế đang đặt ra và đảm bảo giữ vững ổn định tình hình chính trị ở địa phương. Gắn đổi mới tổ chức bộ máy với đổi mới phương thức lãnh đạo, với tinh giản biên chế và cải cách tiền lương; xử lý hài hoà mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan tỉnh Vĩnh Phúc. Thường xuyên quan tâm chỉ đạo tất cả các cơ quan trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở nghiên cứu, quán triệt, học tập và thực hiện đúng các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, tạo sự thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. Bố trí đủ nguồn lực và có cơ chế, chính sách phù hợp đối với những cán bộ, công chức, viên chức chịu tác động trực tiếp trong quá trình sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bộ máy như Nghị quyết 31/2017/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Vĩnh Phúc vừa qua. Đặc biệt đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết, xây dựng kế hoạch, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng lĩnh vực. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, công khai, minh bạch trong thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức. Với các giải pháp trên, tỉnh Vĩnh Phúc tin tưởng sẽ tiếp tục thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Vĩnh Phúc đạt và vượt mục tiêu đề ra./.

Phạm Quang Tuệ
Giám đốc Sở Nội vụ

 

 

Tháng 10, 2018
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
30 1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31 1 2 3
4 5 6 7 8 9 10