Phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền địa phương ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay

16/07/2019

Tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập năm 1997 theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX ngày 26/11/1996. Tỉnh có 9 huyện, thành phố; 137 xã, phường và thị trấn. Trong suốt hơn 20 năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong thực hiện phân cấp, phân quyền quản lý nhà nước; tự chủ, tự chịu trách nhiệm của HĐND và UBND các cấp, Vĩnh Phúc đã tổ chức thực hiện tốt các quy định của Trung ương, của tỉnh về phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền địa phương, nhờ vậy, nhiều thành tựu trong cải cách nền hành chính nhà nước, trong xây dựng bộ máy chính quyền các cấp đã được khẳng định.

Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 về phân định thẩm quyền chính quyền địa phương, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành các văn bản thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các quy định về phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền địa phương tại tỉnh, trong đó phải kể đến các văn bản quy phạm điều chỉnh đối với 5 lĩnh vực chính cần tập trung phân cấp quản lý nhà nước quy định tại Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 21/3/2016 của Chính Phủ như: Nghị quyết số 53/2016/NQ-HĐND ngày 12/12/2016 về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp tỉnh, huyện, xã ổn định giai đoạn 2017-2020 ( lĩnh vực quản lý ngân sách nhà nước); Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND về việc phân cấp thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình và ủy quyền kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh và Quyết định số 03/2018/QĐ-UBND ngày 23/1/2018 quyết định về việc thực hiện phân cấp đầu tư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (lĩnh vực quản lý đầu tư);…Quyết định số 36/2016/QĐ-UBND ngày 24/8/2016 quy định quản lý nhà nước đối với các công ty TNHH một thành viên thủy lợi trên địa bàn tỉnh (thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước với doanh nghiệp nhà nước và phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp); Quyết định số 22/2018/QĐ-UBND ngày 22/10/2018 quyết định ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất (lĩnh vực quản lý đất đai); Quy định số 01-Qđi/TU ngày 6/6/2018 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc quy định phân cấp quản lý cán bộ tỉnh Vĩnh Phúc (lĩnh vực công vụ, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động)

Việc ban hành các văn bản phân cấp, phân quyền nêu trên đã tạo cơ sở thống nhất để các Sở, ngành, UBND các cấp tổ chức thực hiện trên thực tế. Nhờ vậy, thành tựu trong quản lý nhà nước ở các lĩnh vực đều đã được khẳng định trên thực tế. Cụ thể như sau:

- Trong lĩnh vực quản lý ngân sách nhà nước: việc phân cấp nguồn thu - nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền địa phương theo Nghị quyết số 53/2016/NQ-HĐND ngày 12/12/2016 của HĐND tỉnh về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp tỉnh, huyện, xã ổn định giai đoạn 2017-2020 như hiện nay là phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của cấp tỉnh, huyện và xã. Nhờ vậy, năm 2018, ước thu NSNN của tỉnh đạt 33 nghìn tỷ đồng [1], vượt 11% so với dự toán và tăng 12 % so với năm 2017.

- Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu tư công: Thực hiện các quy định của UBND tỉnh về phân cấp quyết định đầu tư trên địa bàn tỉnh theo hướng “tăng phân cấp, tăng trách nhiệm, tăng hậu kiểm” đến nay,  công tác chuẩn bị đầu tư (bao gồm: dự toán tư vấn khảo sát, tư vấn lập quy hoạch, tư vấn lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật,…) được chủ đầu tư lập, trình UBND cấp huyện, cấp xã xem xét, quyết định một cách chặt chẽ, hiệu quả. Với cơ chế chịu trách nhiệm như đã nêu trên, UBND cấp huyện, cấp xã sẽ chủ động giám sát khối lượng công việc hoàn thành, đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án đầu tư, tránh tình trạng phân tán đầu tư, giảm thiểu thất thoát lãng phí, đặc biệt nợ đọng trong xây dựng cơ bản giai đoạn 2016-2020 đã giảm đáng kể từ 3.200 tỷ đồng đến nay thanh toán được trên 2.500 [2] tỷ đồng.

- Trong lĩnh vực thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp: việc phân cấp gắn với việc chuyển giao cơ chế quản lý từ chỗ Nhà nước trực tiếp điều hành DN có vốn nhà nước sang cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện các kế hoạch, phương án hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có đúng với chiến lược, định  hướng mà Nhà nước đề ra, các vấn đề còn lại doanh nghiệp được chủ động tự quyết định. UBND tỉnh giao Sở Kế hoạch và đầu tư chịu trách nhiệm chủ trì trong rà soát các DN nhà nước không cần nắm vốn để tiếp tục thoái vốn. Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh không còn Doanh nghiệp nào phải sắp xếp, cổ phần hóa.

- Trong lĩnh vực quản lý tổ chức bộ máy nhà nước,  biên chế, công chức, viên chức và người lao động: Việc phân cấp trong quản lý tổ chức bộ máy nhà nước, biên chế và quản lý về cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đã được tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành toàn diện. Trên cơ sở nguyên tắc “Ban Thường vụ Tỉnh ủy thống nhất quản lý biên chế của hệ thống chính trị toàn tỉnh” (Đề án số 01-ĐA/TU ngày 30/11/2016 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc), tỉnh thực hiện phân cấp với tinh thần: tỉnh thống nhất tập trung ở mặt chủ trương trong quản lý cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đồng thời trao quyền, tăng trách nhiệm, tăng tính chủ động, sáng tạo cho các cấp chính quyền địa phương trong quản lý CB,CC,VC.

 Nhờ vậy, nhiều kết quả tiêu biểu trong sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tính đến hết năm 2018, 100% các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh không thành lập thêm phòng, ban, đơn vị trực thuộc. Đến năm 2019, đã có 10 sở, ban, ngành giảm ít nhất 1 phòng, ban trực thuộc (vượt hơn 3% so với yêu cầu của đề án),  đã giảm 91 đơn vị sự nghiệp công lập (kết quả thực hiện Đề án 01 giảm 48 đơn vị, kết quả thực hiện Nghị quyết 19 giảm 43 đơn vị); trên cơ sở giải quyết tinh giản biên chế, thôi việc, nghỉ hưu đã thực hiện cắt giảm 120 chỉ tiêu công chức (đạt 6.7%), cắt giảm 1.205 chỉ tiêu viên chức (đạt 5.9%) và cắt giảm 24 chỉ tiêu hợ đồng lao động theo Nghị định 68/200/NĐ-CP (đạt 5.3%) so với biên chế giao năm 2015   [3].

Từ năm 2013 tỉnh Vĩnh Phúc đã chủ động thực hiện giao biên chế sự nghiệp theo giai đoạn (giai đoạn 2013 – 2015, giai đoạn 2016 – 2018, giai đoanh 2019 - 2021) để ổn định trong các cơ quan, đơn vị, đồng thời tạo điều kiện cho việc bố trí, sắp xếp người làm việc. 100 % CB,CC,VC cấp tỉnh, huyện, cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo quy định; công tác đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá CB,CC,VC được đổi mới toàn diện; thực hiện tinh giản biên chế từ năm 2015 đến nay toàn tỉnh giảm  1.190 CB,CC,VC và 10.704 người hoạt động không chuyên trách; quá trình sắp xếp, sáp nhập tổ chức lại bổ máy, toàn tỉnh giảm 110 cấp phó, trong đó có hai cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý và 108 cán bộ thuộc thẩm quyền của các cơ quan, đơn vị quản lý.

Từ những kết quả đã đạt được nêu trên, có thể thấy việc thực hiệnphân cấp, phân quyền giữa các cấp chính quyền địa phương tại tỉnh đã đảm bảo đúng với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng như các quy định của Luật chuyên ngành đối với từng lĩnh vực. Để tiếp tục tổ chức thực hiện tốt các nguyên tắc phân định thầm quyền  cần tập trung triển khai thực hiện tốt một số các giải pháp sau đây:

- Một, kiến nghị hoàn thiện với cấp có thẩm quyền về hệ thống các các quy định pháp luật về phân cấp, phân quyền trong các lĩnh vực QLNN.  Theo đó thực hiện rà soát các văn bản quy định hiện hành của Trung ương, của tỉnh và thực trạng triển khai trong thực tế để kịp thời kiến nghị hoặc ban hành trong phạm vi thẩm quyền đối với những vấn đề mà pháp luật hiện hành chưa điều chỉnh.

- Hai, triển khai thực hiện phân cấp, phân quyền gắn liền với tổ chức thanh tra, kiểm tra theo định kỳ và hàng năm tại các cơ quan, đơn vị các cấp, các ngành, trên cơ sở đó kịp thời đề nghị điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các nhiệm vụ phân cấp đảm bảo hiệu quả, đúng quy định của pháp luật;

- Ba, các cơ quan, đơn vị được UBND tỉnh giao tham mưu triển khai thực hiện các nhiệm vụ phân cấp cần tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn sâu rộng đến các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động để đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ phân cấp hiệu quả, công khai, minh bạch./.

Trần Thu Hà
Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Phúc

 


[1] Mai Liên (2019), Vĩnh Phúc thu ngân sách nhà nước năm 2018 đạt gần 33 tỷ đồng, http://baovinhphuc.com.vn/kinh-te/56491/thu-ngan-sach-nha-nuoc-nam-2018-dat-gan-33-nghin-ty-dong.html

[2] Thanh Nga, 2018, Vĩnh Phúc tăng tốc trả nợ xây dựng cơ bản, https://vinhphuc.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/KinhTe/View_Detail.aspx?ItemID=4018

[3] Báo cáo số 80/BC-SNV ngày 28/6/2019 của Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Phúc về kết quả thực hiện tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy

 

Các tin đã đưa ngày:
Tháng 11, 2019
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
27 28 29 30 31 1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
1 2 3 4 5 6 7